Năm 2026, Việt Nam đứng trước bài toán vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao.
Thách thức này diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động, từ bất ổn địa chính trị kéo dài, biến động giá năng lượng, xu hướng bảo hộ thương mại đến sự điều chỉnh chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn. Những yếu tố này đang tạo ra tác động lan tỏa đến dòng vốn quốc tế, tỷ giá, lãi suất và hoạt động thương mại toàn cầu. Trong bối cảnh đó, ngành ngân hàng Việt Nam tiếp tục giữ vai trò then chốt trong việc dẫn dắt dòng vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm ổn định hệ thống tài chính, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức mới.
Trước những biến động đa chiều đó, bức tranh ngành ngân hàng Việt Nam đang có sự phân hóa rõ nét. Các ngân hàng thương mại có quy mô lớn với nền tảng vốn vững chắc và khả năng chuyển đổi số mạnh mẽ đã nhanh chóng thích ứng, duy trì đà tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế cạnh tranh. Ngược lại, nhiều ngân hàng khác vẫn đang đối mặt với áp lực lớn về chất lượng tài sản, thanh khoản, hiệu quả hoạt động và khả năng chống chịu rủi ro, dẫn đến khoảng cách ngày càng gia tăng giữa các nhóm ngân hàng trong ngành.
Sự phân hoá về quy mô vốn và tài sản
Tính đến Quý 1 năm 2026, toàn ngành đã ghi nhận có 08 ngân hàng có quy mô tổng tài sản đạt mốc trên 1 triệu tỷ đồng gồm Agribank, Vietcombank, Vietinbank, BIDV, MB, Techcombank, VPBank và ACB, cao hơn so với thời điểm năm 2022 chỉ có 04 ngân hàng thương mại nhà nước. Tổng tài sản của nhóm ngân hàng quy mô lớn đã đạt mức trên 16 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 65% tổng tài sản toàn ngành, trong đó 04 ngân hàng quốc doanh đã đạt mức tổng tài sản trên 11,5 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 45% tổng tài sản toàn ngành. Đây là nhóm ngân hàng có thương hiệu nổi bật trên thị trường với quy mô mạng lưới rộng khắp từ thành thị đến nông thôn. Sự xuất hiện ngày càng nhiều ngân hàng “triệu tỷ” cho thấy quá trình tích tụ vốn kéo dài và xu hướng tập trung thị phần. Với lợi thế huy động vốn giá rẻ, công nghệ tiên tiến, hệ sinh thái dịch vụ phát triển, nhóm ngân hàng này đang giữ vai trò dẫn dắt, điều tiết thị trường tài chính.
Bên cạnh nhóm ngân hàng quy mô lớn, ngành ngân hàng cũng cho thấy sự phát triển của nhóm ngân hàng quy mô trung bình có tổng tài sản rơi vào khoảng 500 nghìn tỷ đồng đến dưới 1 triệu tỷ đồng. Quý I năm 2026 cho thấy có 06 ngân hàng đang trong nhóm này với tổng tài sản hơn 4 triệu tỷ, chiếm hơn 16% tổng tài sản toàn ngành. Đây cũng là nhóm ngân hàng có quy mô mạng lưới rộng khắp trên thị trường, tuy nhiên sẽ phải cạnh tranh về lãi suất, huy động vốn với nhóm ngân hàng quy mô lớn nêu trên. Tính từ năm 2022, đã có 04 ngân hàng trong nhóm này gia nhập nhóm ngân hàng quy mô lớn và đã bổ sung thêm 04 ngân hàng khác gia nhập nhóm ngân hàng trung bình. Dự kiến đến cuối năm 2026 sẽ có thêm 03 ngân hàng trong nhóm ngân hàng này gia nhập nhóm ngân hàng quy mô lớn.
Nhóm còn lại là các ngân hàng quy mô nhỏ cũng đã cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ. Các ngân hàng thuộc nhóm này có mức tổng tài sản dưới 500 nghìn tỷ đồng, trong đó có 03 ngân hàng đang có tổng tài sản từ 400 nghìn tỷ trở lên và dự kiến sẽ gia nhập nhóm ngân hàng quy mô trung bình vào cuối năm 2026. Đây là nhóm ngân hàng có quy mô khiêm tốn, mạng lưới tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, các khu vực đông dân cư tại các tỉnh. Nhóm ngân hàng này thường đối mặt áp lực lớn về chi phí huy động vốn và quản trị rủi ro và dễ bị ảnh hưởng bởi biến động lãi suất và nợ xấu.
Nguồn: Vietnam Report
Tuy nhiên, so với cuối năm 2025, bức tranh tổng tài sản trong Quý 1/2026 cho thấy sự phân hóa rõ rệt và ngày càng có lợi cho nhóm ngân hàng quy mô lớn. Trong khi có đến 09 ngân hàng ghi nhận sự suy giảm tổng tài sản – chủ yếu thuộc nhóm quy mô trung bình và nhỏ – thì nhóm ngân hàng quy mô lớn lại dẫn đầu với mức tăng mạnh nhất trong cả ba nhóm. Trước bối cảnh biến động lãi suất và thanh khoản thị trường gặp nhiều khó khăn, các ngân hàng quy mô lớn đã khẳng định một cách vượt trội vị thế dẫn dắt ngành nhờ nền tảng vốn vững chắc, dư địa cho vay dồi dào, chiến lược quản trị rủi ro hiệu quả cùng khả năng ít phụ thuộc hơn vào thị trường liên ngân hàng. Điều này không chỉ giúp họ duy trì đà tăng trưởng ổn định mà còn làm nổi bật khoảng cách ngày càng lớn so với các ngân hàng còn lại.
Nguồn: Vietnam Report
Trên nền tảng kinh tế vĩ mô phục hồi tích cực, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại niêm yết tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong năm 2025. Nhóm ngân hàng quy mô lớn thể hiện vai trò là ngọn cờ dẫn đầu ngành ngân hàng với tổng thu nhập hoạt động năm 2025 là 576 nghìn tỷ đồng, tăng 28,5% so với mức 515 nghìn tỷ đồng của năm 2024. Trong đó, thu nhập lãi thuần đạt 434 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% so với mức 396 nghìn tỷ đồng của năm 2024. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 218 nghìn tỷ đồng, tăng 34 nghìn tỷ đồng (18,5%) so với cùng kỳ
Trong khi đó, nhóm ngân hàng quy mô trung bình và nhỏ thể hiện mức độ cạnh tranh cao so với nhóm ngân hàng quy mô lớn. Cụ thể, tổng thu nhập hoạt động trong năm 2025 lần lượt đạt 165 nghìn tỷ đồng (+13,7%) và 92 nghìn tỷ đồng (+21,7%) so với năm 2024. Trong đó, thu nhập lãi thuần năm 2025 lần lượt ở mức 127 nghìn tỷ đồng (+4,5%) và 71 nghìn tỷ đồng (+18,1%) so với năm 2024. Lợi nhuận sau thuế trong năm 2025 lần lượt đạt mức 61 nghìn tỷ đồng (+9,8%) và 29 nghìn tỷ đồng (+47,7%) so với cùng kỳ. Có thể thấy mặc dù nhỏ hơn về quy mô, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của 02 nhóm ngân hàng trung bình và nhỏ đều tăng rất nhanh, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của toàn ngành.
Cuộc đua tăng trưởng tín dụng
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam gặp những thách thức khó khăn từ môi trưởng quốc tế, yêu cầu duy trì ổn định kinh tế vĩ mô song song mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam vẫn tiếp tục cho thấy sức chống chịu và khả năng thích ứng tốt với mức tăng trưởng GDP đạt 8,02% trong năm 2025 và đạt 7,83% trong 03 tháng đầu năm 2026. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát với mức 3,63%. CPI quý I năm 2026 tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước. Bước sang năm 2026, với mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10% trong bối cảnh lạm phát được kiểm soát quanh 4% và tỷ giá tương đối ổn định, quy mô nền kinh tế được ước tính đạt khoảng 586 tỷ USD, tương ứng mức tăng danh nghĩa khoảng 14,4%. Với giả định hệ số hiệu quả sử dụng vốn - ICOR giảm về mức mục tiêu 4,5, tỷ lệ đầu tư toàn xã hội cần lên tới khoảng 45% GDP. Quy đổi theo quy mô GDP dự kiến, tổng nhu cầu vốn đầu tư cần khoảng 6,6 triệu tỷ đồng, tương đương mức tăng gần 60%. Trong bối cảnh Việt Nam cần nhu cầu vốn lớn cho sự phát triển kinh tế, hệ thống ngân hàng với vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực đóng vai trò hết sức quan trọng.
Tính đến cuối năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt hơn 19%, mức tăng trưởng tín dụng cao nhất trong nhiều năm, tạo nền tảng cho nhiều ngân hàng mở tộng quy mô tài sản. Ngân hàng Nhà nước dự kiến mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15% trong năm 2026 và sẽ điều chỉnh phù hợp với diễn biến và tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế mà vẫn đảm bảm an toàn hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng, đặc biệt là lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, lĩnh vực bất động sản, tập trung hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực kinh doanh, những động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Nguồn: Vietnam Report
Bước sang năm 2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tiếp tục đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng vào cuối quý I, tăng 3,18% so với cuối năm 2025. Trong đó, tổng dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng quy mô lớn đã vượt mức 11,5 triệu tỷ đồng, tăng trưởng tín dụng đạt mức 3,32%, vượt trội so với 02 nhóm ngân hàng còn lại. Nhóm ngân hàng quy mô vừa có tổng dư nợ vượt mức 2,9 triệu tỷ đồng, đối với nhóm ngân hàng quy mô nhỏ vượt mức 2,8 triệu đồng. Mức tăng trưởng tín dụng của 02 nhóm ngân hàng này xấp xỉ tương đương nhau, lần lượt ở mức 2,86% và 2,60%. Đáng chú ý, bên cạnh các ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo điểm xếp hạng năm 2025, các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc được giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn, đặc biệt là các ngân hàng HDBank, VPBank, MB có thể được giao chỉ tiêu cao nhất hệ thống với mức tăng trưởng trong khoảng từ 30-34%. Nhìn vào sự chênh lệch dư nợ tín dụng vượt trội và tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn 02 nhóm ngân hàng còn lại, có thể thấy sự phân hóa rõ nét giữa cả 03 nhóm ngân hàng, với đầu tàu là nhóm ngân hàng quy mô lớn
Áp lực cân bằng giữa huy động vốn và cho vay
Ngành ngân hàng đang chứng kiến sự trở lại của cuộc đua huy động vốn trong hệ thống ngân hàng. Động lực chính đến từ nhu cầu tín dụng phục hồi mạnh mẽ trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và tiếp tục thúc đẩy dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực kinh doanh và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Trong năm 2025, mức tăng trưởng dư nợ cho vay toàn hệ thống đạt 19,4%, cao hơn mức tăng tiền gửi khách hàng là 15,0%. Đến cuối quý I/2026, dư nợ tín dụng tiếp tục tăng thêm 3,6%, đạt 14,7 triệu tỷ đồng, trong khi tiền gửi khách hàng chỉ tăng 0,6%, lên 12,9 triệu tỷ đồng. Dữ liệu cho thấy tốc độ tăng dư nợ cho vay đang cao hơn so với tốc độ tăng tiền gửi khách hàng, sự chênh lệch này đã khiến tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng liên tục gia tăng trong những năm gần đây, từ mức 102,3% năm 2023, chỉ số này đã tăng liên tục qua các năm và đạt 113,9% vào cuối quý I/2026. Xét theo từng nhóm ngân hàng, dữ liệu cho thấy trong năm 2025, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi của nhóm ngân hàng quy mô lớn đạt 112,77%, trong khi nhóm ngân hàng trung bình đạt 107,69%, nhóm ngân hàng nhỏ đạt 104,24%. Thời điểm Quý I năm 2026, tỷ lệ này lần lượt là 117,56%, 107,63% và 106,16%.
Có thể thấy, để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng phải liên tục nhiều nguồn vốn ngoài tiền gửi khách hàng, bao gồm việc phát hành giấy tờ có giá và huy động trên thị trường liên ngân hàng. Tổng huy động vốn toàn hệ thống năm 2025 gần 18,9 triệu tỷ đồng và đến cuối Quý I năm 2026 con số này vượt mức 19,3 triệu tỷ đồng. Xét theo từng nhóm ngân hàng, năm 2025 tỷ lệ huy động vốn so với tiền gửi khách hàng ở nhóm ngân hàng quy mô lón đạt 78,55%, các nhóm ngân hàng trung bình và nhỏ có tỷ lệ lần lượt là 72,55% và 63,86%. Tính đến Quý I năm 2026, tỷ lệ này ở các nhóm lần lượt là 79,01%, 74,49% và 64,55%. Có thể thấy các ngân hàng hàng đầu có xu hướng tối ưu hóa nguồn vốn huy động tốt hơn so với các ngân hàng khác. Việc tổng huy động vốn tăng nhanh hơn tiền gửi khách hàng cũng phản ánh xu hướng các ngân hàng đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn nhằm giảm áp lực thanh khoản và đáp ứng các yêu cầu quản trị an toàn.
Nguồn: Fiin, SHS Research
Áp lực huy động vốn gia tăng đã nhanh chóng phản ánh lên mặt bằng lãi suất. Sau khi chạm vùng đáy trong năm 2024, lãi suất huy động đã đảo chiều tăng trở lại từ cuối năm 2025 ở hầu hết các nhóm ngân hàng. Theo SHS Research, đến tháng 05/2026, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng quy mô nhỏ đạt khoảng 6,35%, cao nhất hệ thống, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì ở mức 5,90%. Khoảng cách lãi suất giữa các nhóm ngân hàng tiếp tục phản ánh sự khác biệt về thương hiệu, khả năng thu hút tiền gửi và chi phí vốn đầu vào.
Diễn biến này phần nào gợi nhớ giai đoạn cạnh tranh huy động vốn năm 2022, song nguyên nhân có sự khác biệt đáng kể. Nếu như áp lực lãi suất giai đoạn 2022 chủ yếu xuất phát từ căng thẳng thanh khoản và những biến động của môi trường vĩ mô toàn cầu, thì đợt tăng lãi suất hiện nay chủ yếu phản ánh nhu cầu chuẩn bị nguồn vốn cho tăng trưởng tín dụng và yêu cầu nâng cao các chỉ tiêu an toàn hoạt động. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 tiếp tục được duy trì ở mức cao, cuộc cạnh tranh huy động vốn nhiều khả năng sẽ còn kéo dài, qua đó tạo thêm sức ép lên chi phí vốn, biên lãi ròng (NIM) và hiệu quả sinh lời của ngành ngân hàng trong thời gian tới.
Chất lượng tài sản và lợi thế cạnh tranh trước yêu cầu mới về biên an toàn
Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận của hệ thống ngân hàng tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, chất lượng tài sản vẫn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu, đòi hỏi các ngân hàng phải tiếp tục thực hiện chính sách trích lập dự phòng rủi ro một cách thận trọng và đầy đủ. Xét trên quy mô tuyệt đối, nợ xấu nội bảng toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam ghi nhận xu hướng gia tăng liên tục trong giai đoạn gần đây, từ mức khoảng 137 nghìn tỷ đồng vào năm 2022, con số đã tăng lên 264 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025. Đến hết quý I/2026, quy mô nợ xấu tiếp tục mở rộng, đạt gần 290 nghìn tỷ đồng, cao hơn khoảng 112% so với năm 2022. Điều này cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn chưa thực sự được giải tỏa dù môi trường kinh doanh đã có những tín hiệu cải thiện.
Sự gia tăng nợ xấu chủ yếu đến từ một số nguyên nhân gồm: (i) Áp lực tài chính từ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) cùng hộ kinh doanh cá thể vẫn còn lớn do chi phí vốn tăng cao, nhu cầu tiêu dùng phục hồi chậm và chi phí đầu vào biến động mạnh trong bối cảnh kinh tế đối mặt với nhiều thách thức bên ngoài; (ii) Phân khúc tín dụng bán lẻ, đặc biệt là vay mua nhà và vay tiêu dùng, ghi nhận tỷ lệ nợ quá hạn tăng sau giai đoạn mở rộng tín dụng nhanh chóng trong các năm trước, khi một bộ phận khách hàng gặp khó khăn trong việc duy trì dòng tiền trả nợ; (iii) Các khoản nợ cũ từ lĩnh vực bất động sản và một số ngành sản xuất quy mô nhỏ chưa được xử lý triệt để, trong khi quy trình tái cơ cấu và xử lý tài sản bảo đảm vẫn gặp một số hạn chế về thủ tục hoặc vướng mắc pháp lý kéo dài; (iv) việc áp dụng các quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng theo chuẩn mực chặt chẽ hơn của Ngân hàng Nhà nước đã góp phần làm phản ánh đầy đủ và kịp thời hơn quy mô nợ xấu thực tế của hệ thống.
Mặc dù tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ toàn ngành đã giảm từ 1,93% năm 2023 xuống còn 1,86% năm 2025 nhờ đà tăng trưởng tín dụng tích cực và nỗ lực xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, chỉ số này đã đảo chiều tăng trở lại lên 1,98% trong quý I/2026. Điều này cho thấy áp lực về chất lượng tài sản vẫn chưa được giải tỏa hoàn toàn, đòi hỏi các ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục triển khai các giải pháp đồng bộ, quyết liệt nhằm kiểm soát và xử lý nợ xấu hiệu quả trong thời gian tới.
Xét theo quy mô ngân hàng, nhóm ngân hàng “triệu tỷ” tiếp tục duy trì chất lượng tài sản tốt nhất với tỷ lệ nợ xấu chỉ 1,45% trong quý I/2026, dù quy mô nợ xấu đã tăng lên gần 143 nghìn tỷ đồng và chiếm gần một nửa tổng nợ xấu toàn hệ thống. Ngược lại, nhóm ngân hàng có quy mô trung bình ghi nhận áp lực lớn nhất khi tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1,75% năm 2022 lên 3,28% trong quý I/2026, đồng thời quy mô nợ xấu vượt 97 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 3 lần sau 4 năm. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ đã cải thiện đáng kể chất lượng tài sản khi tỷ lệ nợ xấu giảm từ mức đỉnh 3,48% năm 2023 xuống 2,78% trong quý I/2026, song quy mô nợ xấu vẫn ở mức trên 50 nghìn tỷ đồng. Diễn biến trên cho thấy nhóm ngân hàng quy mô trung bình là nhóm chịu nhiều sức ép nhất về chất lượng tài sản trong giai đoạn hiện nay.
Nguồn: Vietnam Report
Song song với sự gia tăng của nợ xấu, khả năng bao phủ rủi ro của hệ thống đang có xu hướng suy giảm. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) toàn ngành giảm từ 121,8% năm 2022 xuống còn 82,9% năm 2025 và tiếp tục giảm xuống 80,1% trong quý I/2026. Đặc biệt, nhóm ngân hàng “triệu tỷ” vốn là nhóm sở hữu bộ đệm dự phòng mạnh nhất hệ thống - cũng ghi nhận LLR giảm mạnh từ 163,5% trong năm 2022 xuống còn 106,7% tại Quý I năm 2026. Đối với nhóm ngân hàng quy mô trung bình, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm tương ứng từ 85,1% xuống 57,1% cùng thời điểm. Đối với nhóm ngân hàng quy mô nhỏ, tỷ lệ này dao động trong khoảng 40-50% tùy từng thời điểm, là nhóm có tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp nhất toàn ngành, cho thấy khẩu vị rủi ro cao của nhóm ngân hàng này bằng việc giảm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng để tăng lợi nhuận.
Nhìn chung, xu hướng trên phản ánh một thực tế rằng mặc dù lợi nhuận ngành ngân hàng vẫn tăng trưởng tích cực, một phần đáng kể nguồn lực vẫn đang được sử dụng để xử lý và dự phòng cho các khoản nợ tiềm ẩn rủi ro. Trong bối cảnh tín dụng tiếp tục được thúc đẩy nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, chất lượng tài sản sẽ tiếp tục là yếu tố then chốt quyết định mức độ bền vững của lợi nhuận và là tiêu chí phân hóa quan trọng giữa các ngân hàng trong giai đoạn tới.
Năm 2026 cũng đánh dấu một bước chuyển quan trọng về mặt chính sách khi NHNN thúc đẩy lộ trình tiệm cận các chuẩn mực Basel III khi thông qua dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 22/2019/TT-NHNN về giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng giúp hệ thống an toàn hơn trước rủi ro thanh khoản và biến động thị trường.
Theo dự thảo, các chỉ tiêu quản trị thanh khoản trọng yếu theo Basel III như Tỷ lệ khả năng chi trả (LCR), Tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) và Tỷ lệ đòn bẩy (LEV) sẽ được áp dụng theo lộ trình kéo dài đến năm 2031. Cách tiếp cận này giúp các ngân hàng có thêm thời gian cơ cấu lại nguồn vốn, đầu tư hạ tầng dữ liệu và hoàn thiện các mô hình quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế.
Tuy nhiên, giai đoạn chuyển tiếp sẽ tạo ra không ít áp lực, nhất là khi tín dụng đang tăng nhanh hơn huy động vốn. Việc áp dụng đồng thời các yêu cầu mới về thanh khoản cùng giới hạn tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng trên nguồn vốn huy động (CDR) có thể tạo thêm áp lực cho các ngân hàng. Khác với LDR hiện hành, CDR được tính chặt chẽ hơn: phần dư nợ tín dụng của CDR bổ sung thêm dư nợ trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời điều chỉnh giảm phần tín dụng được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu; phần vốn huy động chỉ ghi nhận 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (tương đồng với cách tính LDR điều chỉnh trong Thông tư 08/2026/TT-NHNN) và loại bỏ tiền gửi liên ngân hàng.
Nguồn: Vietnam Report
Ước tính từ dữ liệu năm 2025 cho thấy phần lớn ngân hàng đều có CDR cao hơn LDR. Trong nhóm ngân hàng được quan sát, chỉ một số ít ngân hàng duy trì CDR dưới ngưỡng 85%, trong khi nhiều ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao đều ghi nhận CDR tiến sát hoặc vượt ngưỡng. Vì vậy, những ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh hoặc phụ thuộc nhiều vào vốn vay liên ngân hàng sẽ chịu áp lực lớn hơn trong việc tăng huy động tiền gửi, bổ sung vốn chủ sở hữu hoặc kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng.
Một điểm đáng lưu ý là dự thảo quy định các ngân hàng chỉ được miễn áp dụng CDR khi đáp ứng đầy đủ LCR và NSFR ở mức 100%. Điều này đồng nghĩa với việc trong giai đoạn 2026–2030, nhiều ngân hàng có thể phải đồng thời tuân thủ cả các tỷ lệ thanh khoản theo Basel III và các yêu cầu thanh khoản mới, tạo ra áp lực kép đối với hoạt động tăng trưởng. Về dài hạn, Basel III sẽ làm thay đổi lợi thế cạnh tranh trong ngành ngân hàng. Những ngân hàng có vốn mạnh, nguồn tiền gửi ổn định và hệ thống quản trị rủi ro hiện đại sẽ có nhiều cơ hội duy trì tăng trưởng bền vững và củng cố vị thế trên thị trường.
Cơ chế tín dụng đặc biệt: Dư địa mới cho tăng trưởng
Trong bối cảnh các ngân hàng phải đồng thời đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao và tuân thủ các yêu cầu ngày càng chặt chẽ về an toàn vốn, thanh khoản theo lộ trình Basel III, dư địa mở rộng tín dụng của nhiều tổ chức tín dụng đang dần bị thu hẹp. Song song với việc tăng cường các chuẩn mực quản trị rủi ro, NHNN cũng từng bước áp dụng các cơ chế điều hành linh hoạt nhằm bảo đảm nguồn vốn cho những lĩnh vực có khả năng tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Một trong những chính sách đáng chú ý là cơ chế tín dụng đặc biệt đối với 18 dự án trọng điểm quốc gia theo Công văn số 5386/NHNN-TD ngày 22/6/2026. Các dự án thuộc nhiều lĩnh vực quan trọng như hạ tầng giao thông, cảng hàng không, đường sắt, khu đô thị và các công trình phục vụ Hội nghị APEC được xác định là những dự án có quy mô lớn, có tính lan tỏa và đóng vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế vùng cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Điểm đáng chú ý là khi các ngân hàng tài trợ vốn để các doanh nghiệp thực hiện các dự án này sẽ được loại trừ dư nợ cấp tín dụng khi tính toán một số chỉ tiêu về tín dụng theo quy định đối với khách hàng thực hiện triển khai các dự án đó. Các chỉ tiêu được loại trừ bao gồm: Tăng trưởng tín dụng hằng năm, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn và tỷ lệ cho vay một khách hàng, nhóm khách hàng liên quan.
Tổng nhu cầu vốn của 18 dự án triển khai dự kiến lên tới 752.000 tỷ đồng, không chỉ lớn về quy mô vốn mà còn có đặc điểm là thời gian vay kéo dài nhiều năm, đồng nghĩa với việc hệ thống ngân hàng phải chuẩn bị lượng vốn trung và dài hạn rất lớn để đáp ứng nhu cầu cấp tín dụng. Việc cấp tín dụng vào các dự án lớn trong bối cảnh tỷ lệ LDR trong năm 2025 của các ngân hàng gần chạm giới hạn ngưỡng 85% cho thấy áp lực gia tăng vốn huy động cho những ngân hàng tham gia giải ngân vào các dự án nói trên. Tuy nhiên, việc Thông tư 08/2026/TT-NHNN và Thông tư 25/2026/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN có hiệu lực đã gỡ hai nút thắt quan trọng nhất của Thông tư 22/2019, bao gồm nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung – dài hạn (SMLR) lên 40% và tính thêm 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc vào mẫu số LDR, giúp các ngân hàng được trao thêm dư địa tăng trưởng tín dụng và có thêm không gian về nguồn vốn và các tỷ lệ an toàn để có thể đáp ứng nhu cầu cho vay của nền kinh tế.
Vietnam Report nhận định, nhóm ngân hàng có quy mô lớn và một số ít ngân hàng có quy mô trung bình sẽ là những ngân hàng tham gia tài trợ dự án và được hưởng lợi nhờ mối quan hệ đã được thiết lập từ trước với các tập đoàn thay vì toàn hệ thống ngân hàng, giúp các ngân hàng tạo dư địa tăng trưởng tín dụng đáng kể nhưng đồng thời làm gia tăng mức độ tập trung tín dụng, gây ảnh hưởng đến đến nguồn vốn, thanh khoản và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Kết luận
Ngành ngân hàng Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, nơi chất lượng tăng trưởng và sự phát triển bền vững được đặt lên hàng đầu. Sự phân hóa mạnh mẽ trong ngành ngân hàng Việt Nam là xu hướng tất yếu trong bối cảnh áp lực về việc nâng cao chất lượng tài sản, áp lực về thanh khoản và việc tuân thủ những quy định mới để đáp ứng Basel III. Trong cuộc chơi này, các ngân hàng dẫn đầu sẽ có lợi thế lớn khi không chỉ duy trì tăng trưởng bền vững mà còn đóng góp quan trọng vào việc dẫn dắt dòng vốn, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, những ngân hàng quy mô nhỏ cần đẩy nhanh tái cấu trúc, nâng cao quản trị rủi ro và chuyển đổi mô hình hoạt động để không bị bỏ lại quá xa.
Vietnam Report


Bình Luận (0)